Cung Mệnh


 

Sơ lược về cung Mệnh:

 

     

  1. Từ lúc lọt ḷng mẹ cho đến năm 30 tuổi, phải căn cứ vào cung Mệnh để xem xét một sự tốt xấu và luận đoán vận hạn, c̣n từ 30 tuổi trở đi, phải căn cứ vào cung Thân, nhưng dù sao cũng vẫn phải chú ư đến cung Mệnh.

     

  2. Dương cư Dương vị: năm sinh thuộc Dương, cung Mệnh cũng thuộc Dương - hay Âm cư Âm vị: năm sinh thuộc Âm, cung an Mệnh cũng thuộc Âm, như vậy là thuận lư độ số gia tăng. Dương cư Âm vị: năm sinh thuộc Dương, cung Mệnh thuộc Âm - hay Âm cư Dương vị: năm sinh thuộc Âm, cung Mệnh thuộc Dương, như vậy là nghịch lư, độ số giảm thiểu.

     

  3. Nhận định cung Mệnh là Sinh địa, Vượng địa, Bại địa, hay Tuyệt địa. Phải căn cứ vào Bản Mệnh và coi bảng dưới đây :

     

     
    Bản mệnh Cung mệnh
     
    Sinh địa Vượng địa Bại địa Tuyệt địa
     
    Kim Tỵ Dậu Ngọ Dần
     
    Mộc Hợi Măo Thân
     
    Hoả Dần Ngọ Măo Hợi
     
    Thuỷ - Thổ Thân Dậu Tỵ
      

    Thí dụ:

     

    • Kim Mệnh - cung Mệnh an tại Tỵ là Sinh địa: rất tốt.
    • Mộc Mệnh - cung Mệnh an tại Măo là Vượng địa: được nhiều lợi ích.
    • Hoả Mệnh - cung Mệnh an tại Măo là Bại địa: rất xấu.
    • Thuỷ Mệnh hay Thổ Mệnh - cung Mệnh an tại Tỵ là Tuyệt địa: giảm thọ, rất đáng lo ngại.

    Cung Mệnh là Bại địa dù có gặp vận hạn tốt đẹp cũng chẳng được lâu bền, ví như cành hoa mong manh, sớm nở tối tàn.

    Cung Mệnh là Tuyệt địa, rất cần phải có Chính diệu sáng sủa tốt đẹp toạ thủ hay Khoa, Quyền, Lộc hội hợp để cứu giải. Nếu không, rất đáng lo ngại.

    Chính diệu cứu giải lại phải là cứu Chính diệu sinh được Bản Mệnh. Thí dụ: Thuỷ Mệnh, cung Mệnh an tại Tỵ là tuyệt địa, vậy cần phải có Văn Khúc toạ thủ để cứu giải, v́ Vũ khúc thuộc Kim, sinh nhưng Thuỷ mệnh.

    Cung Mệnh là Tuyệt địa, có Chính diệu sinh được Bản Mệnh toạ thủ để cứu giải, gọi là Tuyệt xứ phùng sinh, cũng ví như cành hoa tuy mong manh nhưng lâu tàn. Vậy cho nên cũng chẳng đáng lo ngại nhiều.

     

  4. Đàn ông sinh năm Ngọ, Mùi, cung Mệnh an tại Tư, Sửu: suốt đời vất vả, chẳng mấy khi được xứng ư toại ḷng.

     

  5. Đàn bà, cung Mệnh an tại Tứ Mộ: đảm đang, khôn ngoan. Cung Mệnh an tại Dậu: ra ngoài được nhiều người yêu mến vị nể. Cung Mệnh an tại Tư, Ngọ: suốt đời an nhàn.

     

  6. Cung Mệnh sinh được Chính diệu toạ thủ - Chính diệu toạ thủ lại sinh được Bản Mệnh, như vậy là thuận lư, độ số gia tăng. Thí dụ: Cung Mệnh an tại Măo, thuộc Mộc, có Thái dương thuộc Hoả toạ thủ, Bản Mệnh lại thuộc Thổ. Như vậy là thuận lư, v́ cung Mộc sinh được Chính diệu thuộc Hoả. Chính diệu thuộc Hoả lại sinh được Thổ Mệnh. Đây, chắc chắn là độ số gia tăng.

     

  7. Chính diệu thủ Mệnh sinh cung Mệnh - hay Bản Mệnh sinh Chính diệu thủ Mệnh: như vậy là nghịch lư, độ số giảm thiểu.

     

  8. Cung Mệnh khắc Chính diệu toạ thủ, hay Chính diệu thủ Mệnh khắc Bản Mệnh: như vậy cũng là nghịch lư th́ độ số cũng giảm thiểu, nhưng đáng lo ngại hơn trường hợp trên.

     

  9. Cung Mệnh có nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp gặp nhiều Sát tinh hay Bại tinh xâm phạm, tuy cũng được hưởng phú quư, nhưng thăng giáng thất thường và hay phải lao tâm khổ tứ.

     

  10. Cung Mệnh không có Chính diệu toạ thủ gọi là Mệnh vô Chính diệu. Người có Mệnh vô Chính diệu rất khôn ngoan sắc sảo và thường là con vợ lẽ hay con nàng hầu. Nếu là con vợ cả, tất hay đau yếu, sức khoẻ rất suy kém. Không những thế, lúc thiếu thời lại rất vất vả, thường lang thang phiêu bạt, vô sở, bất chí. Mệnh vô Chính diệu mà không gặp sự cứu giải của các sao như đă kể trên, thật đáng lo ngại. Đây, muốn tăng tuổi thọ, tất phải làm con nuôi họ khác, hay phải sớm gia đ́nh.

     

  11. Cung Mệnh và cung Thân đều sáng sủa tốt đẹp: độ số gia tăng. Chắc chắn là suốt đời được xứng với ư toại ḷng.

     

  12. Cung Mệnh sáng sủa tốt đẹp, cung Thân mờ ám xấu xa: lúc thiếu thời sung sướng. Nhưng đến lúc đứng tuổi, về già lại chẳng mấy khi được toại ư.

     

  13. Cung Mệnh mờ ám xấu xa, cung Thân sáng sủa tốt đẹp: lúc thiếu thời thường phải lao tâm khổ tứ. Nhưng đến lúc đứng tuổi, về già lại sung sướng.

     

  14. Cung Mệnh có nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhưng cung Thân lại có nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hơn hội hợp. Như vậy gọi là Mệnh nhược Thân cường: suốt đời cũng được xứng ư toại ḷng, nhưng không thể giàu có lớn được.

     

  15. Cung Mệnh và cung Thân đồng nhất gọi là Mệnh Thân đồng cung.
    • Tại Tứ Mộ, vô Chính diệu: cùng khổ và giảm thọ. Đây rất cần phải có Tuần, Triệt án ngữ, hay nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp cứu giải. Như vậy cũng đỡ lo ngại, suốt đời cũng được no cơm ấm áo.
    • Tại Tư, Ngọ, vô Chính diệu, nếu có nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp: cùng khổ hay chết non: cũng ví như đoá hoa mới nở đă bị mưa gió vùi dập phũ phàng. Đây, nếu có Hoá Lộc toạ thủ th́ giàu nhưng giảm thọ. Trái lại, nếu không có Hoá Lộc toạ thủ th́ nghèo mà sống.

     

  16. Cung Mệnh có Thân án ngữ: cung Thân có Triệt án ngữ: gọi là Mệnh Tuần, Thân Triệt. Đây, cung Mệnh hay cung Thân rất cần phải có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa tốt đẹp hội hợp. Có như thế, suốt đời mới được xứng ư toại ḷng. Nhất là khi về già mới có danh giá và được an nhàn.

     

  17. Cung Mệnh có Triệt án ngữ: cung Thân có Tuần án ngữ, gọi là Mệnh Triệt, Thân Tuần. Đây, cung Mệnh và cung Thân rất cần phải có vô Chính diệu. Có như thế, suốt đời mới được xứng ư toại ḷng, được tăng thêm tuổi thọ, về già lại được sung sướng án ngữ.

     

  18. Cung Mệnh có Địa không toạ thủ: cung Thân có Địa kiếp toạ thủ gọi là Mệnh Không, Thân Kiếp. Người có "Mệnh không, Thân Kiếp" rất khôn ngoan sắc sảo. Nhưng trong đời vui ít, buồn nhiều, mưu sự th́ thành bại thất thường: làm việc ǵ cũng chẳng được lâu bền. Đây, nếu cung Mệnh vô Chính diệu lại có Đại, Tiểu Hao hội hợp là người tuy ít học, nhưng cũng lập được công danh, sự nghiệp khá hiển hách. Cũng trong trường hợp này, nếu cung Mệnh hay cung Thân lại có Thiên Đồng, Thiên Lương hay Phá Quân toạ thủ, thật không sống lâu được.

     

  19. Cung Mệnh có Địa kiếp toạ thủ: cung Thân có Địa không toạ thủ gọi là Mệnh Kiếp Thân Không. Người có Mệnh Kiếp Thân Không rất khôn ngoan sắc sảo. Nhưng trong đời vui ít buồn nhiều, mưu sự th́ thành bại thất thường: làm việc ǵ cũng chẳng được lâu bền. Đây, nếu cung Mệnh vô Chính diệu lại có Hồng, Đào, Sát tinh hội hợp, tất phải chết non. Nếu không, lúc thiếu thời vất vả, gian truân. Cũng trong trường hợp này, nếu cung Mệnh hay cung Thân lại có Nhật, Nguyệt hay Tử vi sáng sủa tốt đẹp toạ thủ th́ cũng được no cơm ấm áo.

     

  20. Thân cư cung nào th́ sự quan trọng của cung đó lại càng tăng thêm.

     

  21. Thân cư Thiên di.
    • Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp: lập nghiệp ở phương xa, rất thịnh vượng.
    • Tuần, Triệt án ngữ: hay có nhiều Sát tinh hội hợp: chết ở xa nhà.

     

  22. Thân cư Thê Thiếp (hay Phu Quân)
    • Nguyệt toạ thủ: sợ vợ, thường phải nhờ vả nhà vợ.
    • Tuần, Triệt án ngữ: trắc trở về hôn phối, buồn thương vị t́nh.

     

  23. Thân cư Tài bạch :
    • Toạ thủ: hay có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa tốt đẹp hội hợp, hay có Sát, Phá, Liêm, Tham sáng sủa tốt đẹp hội hợp: có danh giá trước, có tiền tài sau.
    • Đại, Tiểu hao, Quyền, Lộc, Kiếp, Hoả hội hợp: buôn bán mà trở nên giàu có. Đây, nếu có thêm Phục, Kinh hội hợp: không nên buôn bông vải và phải luôn luôn đề pḥng hoả hoại.
    • Lưu Kiếp hội hợp: nếu kiếm ăn bằng nghề đánh cá hay buôn bán qua lại sông nước, thật không thể tránh được thuỷ nạn.

     

  24. Thân cư Quan lộc
    • Tuần Triệt án ngữ, Kiếp, Hoà, Kỵ hội hợp: đàn ông muộn đường công danh. Nếu có thêm nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, cũng phải ngoài 40 tuổi mới nhẹ bước thang mây.
    • Tuần Triệt án ngữ, nhiều Sát tinh hội hợp: đàn bà khó giữ được toàn danh tiết. Nếu có Tang, Hổ hội hợp, tất phải goá bụa cô đơn. Đây, nếu không muộn đường chồng con, hay nếu không chịu lấy kế, lấy lẽ, thật không thể tránh được mấy độ buồn thương.

     

  25. Thân cư Phúc Đức
    • Sáng sủa tốt đẹp: được hưởng phúc sống lâu. Tránh được nhiều tai hoạ.
    • Mờ ám xấu xa: khó tránh được tai hoạ. Giảm thọ, dù cung Mệnh có sáng sủa tốt đẹp chăng nữa, cũng không thể sống lâu được.

     


Bản quyền thuộc Công ty Tinh Vân, © 2001.
Dựa trên các tài liệu "Tử vi đẩu số" của Hi Di Trần Đoàn, "Tử vi đẩu số tân biên" của Thái Lang, và một số tài liệu khác.