Cung Phúc Đức


 

Sơ lược về cung Phúc Đức:

Phúc Đức là cung cần phải xem cho kỹ, vì người ta có ảnh hưởng liên lạc đến cái âm đức của các Tiền nhân để lại như người Mệnh thật tốt mà Cung Phúc kém ắt cái hạnh phúc ở đời không được toại mãn. Lắm người Mệnh thật xấu Thân xấu, Hạn đi thường thường mà cung Phúc được tốt ắt là đời được hạnh phúc mỹ mãn. Muốn cho dễ hiểu tôi ví cái Thân Mệnh con người như cái áo dệt để bao thân thể, có hai thứ bằng gai, bằng tơ, bằng vải, bằng lụa, cái nào cũng có chỉ ngang chỉ dọc. Nhưng có cái lại có bông hoa đẹp đẽ, màu mè xinh tươi bọc lên tấm thân các vị Vua Chúa. Được nâng niu quí báu, có cái lại bọc cái thân xác ốm o của người bần hàn ti tiện. Thế là nghĩa làm sao?

Cái Phúc đức ta có thể tượng trưng trong ví dụ này là cái vị của cái áo ở được nơi quyền quí hay ở chỗ thấp hèn. Cũng như con người sao lắm người tài ba lỗi lạc mà thi không đỗ, ra xã hội lại bị nhiều cảnh éo le, lắm kẻ ngu muội hèn nhát lại được hưởng muôn sự hạnh phúc ở đời. Nếy không có những sự ảnh hưởng vô hình mà ta gọi là Âm Đức, ắt ta cho những sự chênh lệch khắt khe ấy là vô lý, không có Số Mệnh và Đạo Trời bất công vậy. Cho nên người có Âm Đức được hưởng vạn phúc lành bất kỳ trong trường hợp nào cũng vậy. Nếu Mệnh số là thứ dân ắt cũng được hạnh phúc vui vẻ, tai hoạ, qua khỏi, nếu là kẻ sĩ ắt phong vân gặp hội mà đường hoạn lộ ắt được cao thăng.

Cái Phúc Đức của Tổ Tiên để lại theo phương Đông là do Tiền nhân, mà cái xương cốt còn lại có ảnh hưởng trực tiếp với con cháu về sau. Khoa học hiện tại cho ta biết rằng có Nguyên tử mà Nguyên tử là bất diệt, nên những cái Nguyên tử của Tiền nhân còn lại ở Xương Cốt một khi được nhuần thấm các Thiên Khí, phong thuỷ đều hoà ung đúc thành như một cái máy "Phát khí lực" xấu hay tốt cho con cháu đời sau. Con Cháu đời sau đã sẵn có những loại Nguyên tử gia truyền, có người hợp kẻ xung, để chịu ảnh hưởng mau hay chậm những Âm Đức của Tiền nhân phóng ra. Đây một nguyên lý cao siêu vô hình mà các bạn có thể tưởng tượng cái Mồ mả của Tiền nhân như một đài "Phát Thanh" và các con cháu sau này như những cái máy "Thâu Thanh". Máy "Phát ra" này người Phương Đông lấy ở Mồ mả Tiền nhân làm căn bản, nó có thể hữu lý và chúng ta đã biết rằng Nguyên tử là bất diệt vậy. Nếu muốn tồn tại cái Phúc vì vậy người á Đông ta có môn Địa lý để phong thuỷ mồ mả, đó chỉ là một Khoa Học cao siêu biết được cái ký của Đất thu được Thiên Khí để hấp thụ cái di hài con Người còn lại là xương cốt

Bắt đầu từ đây giải xem cung Phúc đức:

Cung đằng trước là Tả là ngoài: Ba phương là Ngoại Long, Hổ và Khánh Sơn:

Cung đằng sau là Hữu là sau. Dương trạch âm phần đều xem như vậy. Ví dụ như cung Phúc đức ở cung Tý, cung Sửu ở đằng trước là Tả, cung Hợi là đằng sau là Hữu. Ba phương thì: Ngọ là Khánh Sơn, Thân là Long , Thìn là Hổ . Thân Tí Thìn tam hợp là ba phương. Xem Dương Trạch thì lấy cung Mệnh là Bản cung, xem hành hạn cũng vậy.

Hình Tính các sao trong cung Phúc Đức.

Thiên Cơ là mộc tinh vật là thảo mộc.
Thái Dương là Bình dương (ruộng bằng) hình như tấm kính, người là dương hồn (mộ đàn ông)
Liêm Trinh là gò cao nổi lên (như xương sống) hình như người ốm, ngồi một mình.
Thiên Phủ là Tổ sơn, Thổ Tinh đại địa, linh khí ở hữu đến.
Thái Âm là gò cao chót vót, người là Âm hồn (mộ đàn bà) hình như bán nguyệt.
Tham Lang là hắc thổ chi địa (đất màu bùn đen) vật là thảo mộc um tùm, hình như có chó ngồi.
Vũ Khúc là Côn Sơn.
Hoả Linh như cái cần giải.
Thiên Lương là đất bụi, hình như cái suốt giài (cái suốt trong khung cửi).
Cự Môn là cuộc đất vuông, ở dưới thì đất vàng, hình như cái chiếu giải.
Thiên Tướng là đất vuông vắn dày dặn hình như cái ấn vuông.
Thất Sát là đất khô đỏ, hình như cây cỏ giài thẳng và nhọn là cô sơn.
Phá Quân là cuộc đất tan tở, hình như tên quân thường cổi giáp.
Văn Xương như một cục sắt tròn.
Văn Khúc như giải nước khúc khuỷu.
Phù Bật là đất no đầy, hình như cái cạp chiếu nổi dầy đều lên.
Thiên Khôi như cái cột tươi sáng dựng lên.
Thiên Việt như hình cái kiếm lớn.
Thiên Mã là hình con ngựa.
Lộc Tồn là đất hình vuông, hình cái thương, là cô sơn.
Hoá Lộc là đất bao lần kim khí, hình như cái thương.
Hoá Quyền là đất như cụm cây vuông, hình như cái yên ngựa.
Hoá Khoa là cuộc đất hình cái khuôn cày như cái Bảng.
Hóa Kỵ là đất co nước ngưng tụ, bùn lầy, đất đen,
Không Kiếp là đất hung.
Phi Liêm là hoả tinh tán loạn là cô sơn (núi đứng một mình).
Hỉ Thần là đất bằng có cát.
Bệnh Phù là đất nhe cái đai.
Lưỡng Hao là đất hình nhọn, là phản lại.
Thiên Hình là đất có mảnh sành mảnh bát vỡ là nhà tù tối tăm.
Thiên Diêu là đất gần nước, ẩm ướt, về thảo mộc thì tươi tốt um tùm.
Tam Thai đất hình tam tinh.
Bát Toạ là đất hình Bát Diệu (8 sao hình như đồ Bát cống).
Hư Khốc là đất đường nhỏ hư lở.
Long Trì là đất giữ nước, hình cái ao, cái giếng cạn.
Phượng Các là hình lâu dài, về vật là loài chim sắc đỏ, con Phượng.
Tràng Sinh là đất tụ các thứ nước, nước ở thác xuống.
Thai là Trẩm long chi Thuỷ (nước có rồng lội)
Dưỡng là nước ở ngoài chiều đến.
Quan Đái là Huyền Vũ Thuỷ (khí phách về Võ) là cái Đài là hình bán nguyệt.
Tử là chỗ nước chảy mau, tử thuỷ.
Mộ là thoái thần chi thuỷ.
Hồng Loan là hình cái cung, uốn lên như cái mi mắt, hình bán nguyệt, là Nga mi.
Thiên Hỉ là Cát bùn.
Thái Tuế là hình cái xương sống gầy khô, hình như cái bút, về người thì chỉ thị phi quan sự.
Tấu Thư là hình Thần long đứng một mình.
Triệt Lộ là như con đường hẻm, đường làng nhỏ, cầu đất đương đầu với Huyền Vũ ắt giòng Trưởng bại.
Tuần Không là đất khoáng đạt không có gì, trong cuộc tán loạn.
Thiên Quan là miếu Dương Thần Linh là đình.
Thiên Phúc là Âm thần linh Tự (chùa) là Quán.
Hoa Cái là hình tựa như cái Hoa, cái bát, cái cây.
Thanh Long là Trường Thuỷ (sông lớn) hình người mang kiếm.
Phong Cáo là hình chiếu vuông vắn.
Thai Phụ là hình cái nón.
Suy là như cái xương sống gầy, sắc nhọn.
Bạch Hổ là đất đá trắng là hình Số.

Phàm luận về Phần Mộ thì chuyên lấy cung Phúc Đức làm bạn cung mà định cuộc đất, coi phương hướng, lấy tiều hạn can chi hành độ coi xung hợp ra sao. Lấy xem các sao xung hợp đắc địa, miếu vượng hay lạc hãm mà đoán cát hung. Xem có Văn Tinh ắt phát về Văn, có Vũ Tinh ắt phát về Võ, có Quí Tinh thì phát quí, có Tài Tinh thì phát phú. Lại cần phải tham bác cho kỹ những á c Sát tinh mà biện luận ắt không sai, lại lấy cả Can chi 12 cung để coi cả cuộc đất gần xa, hình Tính các phương rất linh diệu vậy. Xem Dương Trạch cũng vậy.

Thiên Cơ, Phong Cáo, Thai Phụ Hoá Khoa đứng đằng trước là ấn Tín, đứng đằng sau là Bảng.
Cự môn là con Tượng (voi). Thiên Việt là búa là Kiếm.
Thiên Mã là ngựa (gặp Đà La ở Tỵ Hợi là ngựa gãy cẳng).
Tam Thai ở cung đằng trước là Tiền cung, Tam Thai.
Thất Sát ở cung đằng sau là Hậu cung.
Thát Sát, Hỉ Thần, Thiên Hỉ là nước.
Khôi Việt là đầu, Tang môn là chân, Tuần Triệt là Thất Lộc (lạc mất đường).
Địa Kiếp là đương bị nghẽn tắc, gặp Long Trì Thanh long là sông bị nghẽn, giếng bị tắc.
Thất Sát, Địa Kiếp là Kiếm (vào hạng Tà không Chính)
Sương, Khúc, Khôi, Việt, Long, Phượng, Khoa, Quyền, Tả, Hữu, Hoá Lộc là Văn Tinh.
Vũ Tham, Dương, Lực sĩ, Linh Tinh ở vượng địa, Tử Vi Thất Sát là Vũ Tinh.
Kình Dương Đà La Hoả Linh đứng trước cung Phúc đức là Tiền quan, đứng sau là Hậu Quỉ.
 


Bản quyền thuộc Công ty Tinh Vân, © 2001.
Dựa trên các tài liệu "Tử vi đẩu số" của Hi Di Trần Đoàn, "Tử vi đẩu số tân biên" của Thái Lang, và một số tài liệu khác.